Chương XI – Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
CHƯƠNG
XI
QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Điều 100.
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài
1. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn
trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công
dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có
nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy
định khác.
3. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở
nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt
Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế.
4. Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối
với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một
bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
Điều 101. Áp
dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài
Trong trường hợp Luật này, các
văn bản pháp luật khác của Việt Nam có quy định hoặc điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì
pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với
các nguyên tắc quy định trong Luật này.
Trong
trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì
áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Điều 102.
Thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài
1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám
hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật Việt Nam.
Việc đăng ký kết hôn,
nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới
với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với
Việt Nam do Chính phủ quy định.
2. Cơ quan đại
diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện
việc đăng ký kết hôn, giải quyết các việc về nuôi con nuôi và giám hộ có
yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này, các quy định khác có liên
quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu việc đăng ký, giải quyết đó
không trái với pháp luật của nước sở tại; có trách nhiệm thực hiện việc
bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
3. Toà
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương huỷ việc kết hôn
trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con
nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài, xem xét việc công nhận hoặc không
công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án hoặc cơ
quan có thẩm quyền khác của nước ngoài theo quy định của Luật này và
các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam huỷ việc kết hôn trái pháp luật,
giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ
giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước
láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định
của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Điều 103.
Kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.
Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn;
nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật
này về điều kiện kết hôn.
Việc kết hôn giữa
những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết
hôn.
2. Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có
yếu tố nước ngoài để buôn bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ
hoặc vì mục đích trục lợi khác.
Điều 104. Ly hôn có yếu tố nước ngoài
1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải
quyết theo quy định của Luật này.
2. Trong
trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào
thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật
của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường
trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc
giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo
pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
4.
Bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của
nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
Điều 105.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1. Người
nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc nhận trẻ em nước ngoài thường
trú tại Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo quy định của Luật này và
quy định trong pháp luật của nước mà người đó là công dân về điều kiện
nhận nuôi con nuôi.
Việc công dân Việt Nam
nhận trẻ em là người nước ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam.
Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức
lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi
khác.
2. Trong trường hợp việc nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ
giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được
xác định theo quy định của Luật này.
Trong
trường hợp việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ
nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp
luật của nước nơi thường trú của con nuôi.
Điều 106. Giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài
1. Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, việc giám hộ được đăng ký
tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước
ngoài phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác cuả pháp
luật Việt Nam.
2. Trong trường hợp việc giám
hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa
người giám hộ và người được giám hộ được xác định theo pháp luật của
nước nơi thường trú của người giám hộ.




