Chương V + VI – Các thành viên trong gia đình – Cấp dưỡng
CHƯƠNG
V
QUAN HỆ GIỮA ÔNG BÀ NỘI, ÔNG BÀ NGOẠI VÀ CHÁU;
GIỮA ANH,
CHỊ, EM VÀ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN
TRONG GIA ĐÌNH
Điều 47.
Nghĩa vụ và quyền của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu
1. Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông
nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con
cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị
tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy
định tại Điều 48 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ
nuôi dưỡng cháu.
2. Cháu có bổn phận kính
trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại.
Điều 48.
Nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em
Anh,
chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và
quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc
cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
Điều 49.
Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
1.
Các thành viên cùng sống chung trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm,
giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp
công sức, tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp với thu
nhập, khả năng thực tế của mình.
Các thành
viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau.
Quyền,
lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Nhà nước
khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc,
giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình
Việt Nam.
CHƯƠNG
VI
CẤP DƯỠNG
Điều 50.
Nghĩa vụ cấp dưỡng
1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và
con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu,
giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
Nghĩa
vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển
giao cho người khác.
2. Trong trường hợp người
có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực
hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Luật này.
Điều 51.
Một người cấp dưỡng cho nhiều người
Trong
trường hợp một người cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và
những người được cấp dưỡng thoả thuận với nhau về phương thức và mức cấp
dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp
dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không
thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 52. Nhiều người cùng cấp dưỡng cho một
người hoặc cho nhiều người
Trong trường
hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều
người thì những người này thỏa thuận với nhau về phương thức và mức
đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu
thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Điều 53.
Mức cấp dưỡng
1. Mức cấp dưỡng do người có
nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người
đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa
vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không
thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi
mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu
cầu Toà án giải quyết.
Điều 54.
Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Việc
cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm,
hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thoả
thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường
hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế
mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thoả thuận
được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều 55.
Người có quyền yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
1. Người được cấp
dưỡng hoặc người giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát
yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Viện kiểm sát
theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án
buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện
nghĩa vụ đó.
3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo
quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án
hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét,
yêu cầu Toà án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Điều 56.
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn
Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa
thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân
sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Mức cấp dưỡng cho
con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án
giải quyết.
Điều 57.
Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ
Con
đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha
mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Điều 58.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em
1. Trong
trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và
không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không
sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có
tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động
và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Em đã
thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh,
chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Điều 59.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu
1. Ông bà nội, ông bà ngoại không
sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu
chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động,
không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy
định tại Điều 58 của Luật này.
2. Cháu đã
thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp
dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả
năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác
cấp dưỡng theo quy định của Luật này.
Điều 60.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi
ly hôn
Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng
thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa
vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.
Điều 61.
Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng
Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau
đây:
1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và
có khả năng lao động;
2. Người được cấp dưỡng
có thu nhập hoặc tài sản để tự nuôi mình;
3.
Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
4.
Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
5. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
6. Bên được cấp dưỡng sau khi ly
hôn đã kết hôn với người khác;
7. Các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật.
Điều 62.
Khuyến khích việc trợ giúp của tổ chức,
cá nhân
Nhà
nước và xã hội khuyến khích các tổ chức, cá nhân trợ giúp bằng tiền
hoặc tài sản khác cho các gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, túng thiếu.




