Chương IV – Quan hệ giữa mẹ và con

Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 34, 36 và 37 của Luật này.

CHƯƠNG
IV
QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON

 

Điều 34.
Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Cha mẹ có
nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc
học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và
đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho
xã hội.

2. Cha mẹ không được phân biệt đối xử
giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức
lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm
những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

 

Điều 35.
Nghĩa vụ và quyền của con

Con có bổn phận yêu
quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời
khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp
của gia đình.

Con có nghĩa vụ và quyền chăm
sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Nghiêm cấm con có hành
vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

 

Điều 36.
Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm
sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật,
mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài
sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và
quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu,
tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng
nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

 

Điều 37.
Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo
và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo
điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận;
làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và
các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

2.
Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham
gia hoạt động xã hội của con.

3. Khi gặp khó
khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ
chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.

 

Điều 38.
Nghĩa vụ và quyền của bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của
chồng

1. Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với
mình theo quy định tại các điều 34, 36 và 37 của Luật này.

2. Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 35 và
Điều 36 của Luật này.

3. Bố dượng, mẹ kế và
con riêng của vợ hoặc của chồng không được ngược đãi, hành hạ, xúc phạm
nhau.

 

Điều 39.
Đại diện cho con

Cha mẹ là người đại diện
theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực
hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có
người khác đại diện theo pháp luật.

 

Điều 40.
Bồi thường thiệt hại do con gây ra

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành
niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây
ra theo quy định tại Điều 611 của Bộ luật dân sự.

 

Điều 41.
Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm
phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm
nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá
tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép
buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng
trường hợp cụ thể Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân,
cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không
cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của
con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến
năm năm. Toà án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

 

Điều 42.
Người có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với
con chưa thành niên

1. Cha, mẹ, người thân thích của
con
chưa thành niên theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền
tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hạn chế
một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối
với con chưa thành niên.

3. Cơ quan, tổ chức
sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình
yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hạn chế một số
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a)
Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

b) Hội liên
hiệp phụ nữ.

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức
khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hạn chế
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

 

Điều 43.
Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con
chưa thành niên

1.
Trong trường hợp một trong hai người là cha hoặc mẹ bị Toà án hạn chế
một số quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của
con và đại diện theo pháp luật cho con.

2.
Trong trường hợp cha mẹ đều bị Toà án hạn chế quyền đối với con chưa
thành niên thì việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản
riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định
của Bộ luật dân sự và Luật này.

3. Cha, mẹ đã
bị Toà án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện
nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

 

Điều 44.
Quyền có tài sản riêng của con

1. Con có
quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa
kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi,
lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp
khác.

2. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên còn
sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình;
nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình.

 

Điều 45.
Quản lý tài sản riêng của con

1. Con từ đủ
mười lăm tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha
mẹ quản lý.

2. Tài sản riêng của con dưới mười
lăm tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì do cha mẹ quản lý. Cha mẹ
có thể uỷ quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của
con.

3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng
của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa
kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó
hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

 

Điều 46.
Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên

1. Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của
con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của
con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.

2. Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi
có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn
hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ.

Theo: ST